Sunday, April 3, 2016

KimCa - Thảo Luận Mệnh - Thân

Dịch thì có Khí, Khí sinh Tượng, Tượng có Số, Số có Lý.

Mỗi một năm Trái Đất di chuyển trên Hoàng Đạo được 365+1/4 ngày, đi qua hết 12 Cung, mỗi Cung 30 độ. Trái Đất di chuyển trên Hoàng Đạo tạo ra 4 mùa do sự tự quay và trục Bắc Nam bị lệch. 4 mùa thực chất là Nhiệt, Mùa Xuân thì ấm áp, mùa Hạ thì nóng bức, mùa Thu thì mát mẻ, mùa Đông thì lạnh lẽo. Cũng do sự thay đổi nhiệt độ trong năm nên ta thấy mùa Xuân ứng với Mộc và mùa Hạ ứng với Hỏa thuộc Dương, mùa Thu ứng với Kim và mùa Đông ứng với Thủy thuộc Âm, Khí Thổ có lúc Âm lúc Dương, vào mùa Xuân và Hạ thì Khí Thổ thuộc Dương, mùa Thu và Mùa Đông khí Thổ thuộc Âm. Do vậy tiền đề của Ngũ hành vốn là Âm Dương.

Khí Trái Đất di chuyển trên Hoàng Đạo thì trung bình mỗi tháng sẽ có 2 tiết khí làm chủ, tùy vào tháng Sinh mà con người được hấp thụ cái khí Âm hay khí Dương mạnh nhất, hay là Khí Ngũ hành nào vượng nhất và suy nhất. Cái khí này vốn là Khí Thiên.

Song song với quá trình trên là sự tư quay của Trái Đất từ Tây sang Đông mà sinh ra ngày và đêm, nhìn từ mặt đất sẽ thấy mặt trời di chuyển từ Đông sang Tây do sự chuyển động tương đối của Trái đất so với không gian Thiên Cầu. Vì vậy người xưa có câu “thiên hữu chuyển, địa tả hoàn” , tùy vào người Sinh vào ngày hay đêm mà bẩm thụ khí Âm hay khí Dương mạnh của ngày đó, như sinh vào sáng sớm thì khí Âm Dương điều hòa hơn, sinh vào buổi trưa thì khí Dương thịnh Âm suy, sinh vào buổi chiều và tối thì ngược lại Âm thịnh Dương suy. Kết hợp với Tháng sinh sẽ cho ta biết con người bẩm thụ Khí Âm Dương Ngũ Hành thịnh suy như thế nào. Đó là tiền đề trong cách an Mệnh.

Đồng thời Mặt Trăng di chuyển trên Bạch đạo và hợp góc với Thiên Cầu và Hoàng đạo sẽ cho ta biết người sinh vào ngày trong tháng có đặc điểm gì. Tứ dư trong môn Thất Chính Tứ Dư kỳ thực chỉ là giao điểm của Bạch Đạo Hoàng Đạo và khoảng cách của Mặt Trăng so với Trái Đất, từ chuyển động biểu kiến của Chúng mà Khí Âm Dương Ngũ Hành sẽ thay đổi tạo nên những số mệnh khác nhau. Kết hợp với Năm sinh vốn mang ảnh hưởng mạnh của Ngũ tinh sẽ có số mệnh theo Năm, Tháng, Ngày, Giờ.

Mệnh thuận tháng nghịch giờ chẳng qua là sự quay quanh Mặt Trời trên Hoàng đạo và sự tự quay của nó từ Tây sang Đông, tiền đề trong cách an Thân chính là Trời thì quay về bên phải theo lý Thiên hữu chuyển, địa tả hoàn. Do Mệnh ứng với Địa di chuyển về bên Trái nên thuộc Âm, Thân ứng với Thiên nên thuộc Dương. Từ đây ta xác định được tiên đề tiếp theo Mệnh Thân là một cặp Âm Dương. Do sự chuyển động từ Tây sang Đông của Trái đất vốn là chuyển động thực nên Cung mệnh làm chủ để an 11 cung còn lại, còn Cung Thân vốn là sự chuyển động tương đối của Thiên Cầu từ Đông sang Tây nên không được dùng để an 11 Cung và Chính tinh. Cung Thân chỉ cho ta thấy sự bổ khuyết cho cung Mệnh.

Từ Cung mệnh ta xác định được Cục Số, vậy Ngũ hành Cục là gì? Ngũ hành Cục chính là Khí mà con người lúc sinh ra được bẩm thụ, tùy vào mỗi thời điểm mà con người bị ảnh hưởng mạnh nhất của một hành so với các hành khác nên người đó sẽ được bẩm thụ Khí ngũ hành đó nhiều nhất lúc sinh ra. Khí ở đây được hiểu theo lý của Chu Hy “trong khoảng Trời Đất chỉ có một thứ duy nhất là Khí” Khí thì có Lý, hay nói cách khác Khí ngũ hành mà ta thụ hưởng lúc sinh ra là Khí Thiên Địa hợp nhất và Khí ngũ hành tạo nên hình hài của ta vậy ( Nhân ).

Số của Cục là gì? Số chính là để diễn giải cụ thể Ngũ hành Cục, hay nói cách khác Số chính là Số hóa ngũ hành Cục, giúp cho việc phân định Hành Cục này so với Hành Cục khác, vì mỗi hành Cục đều có tính lý riêng biệt so với các ngũ hành Cục khác. Nên mỗi ngũ hành khác nhau sẽ có Số khác nhau. Ngũ hành Cục ở trên được nói đến như là Khí Thiên Địa hợp nhất tạo nên hình hài của con người lúc sinh ra, Số chính là những thông tin về ta lúc sinh ra. Những thông tin này giúp cho mỗi người có cái chung và riêng. Từ số ta có thể định vị Chính tinh, Chính tinh vốn là sự lưu chuyển từ Khí sang Hình thông qua Số hóa của Khí Ngũ hành Cục và ngày sinh. Cho nên Số vốn tự nhiên mà có song song với Ngũ hành Cục.

Khí Ngũ hành Cục đại diện cho Nhân, vốn là Khí Trời Đất thụ bẩm lúc sinh ra, mà con người thì có Âm Dương Nam nữ, Âm Nam Dương Nữ đi nghịch, Dương Nam Âm Nữ đi thuận đó vốn là hợp với cái Đạo của Trời Đất vậy. Cho nên Khí Ngũ Hành Cục cũng thuận theo lẽ tự nhiên của Đạo mà đi thuận hoặc đi nghịch. Khí ngũ hành Cục có Vượng có Suy theo thời gian mà tạo nên 12 Thời ( trạng thái ) của Vòng Trường Sinh, con người thì có Sinh Lão Bệnh Tử theo sự Thinh Suy của Ngũ hành Cục.

Đại vận chính là Thời của mỗi người theo Sinh Lão Bệnh Tử, cho nên Đại vận vốn dĩ theo 12 Thời của Vòng Trường Sinh Cục mà đi Thuận hay Ngịch tùy theo Nam Nữ Âm Dương.

Tại sao Đại vận lại Khởi từ Cung Mệnh? Cung Mệnh chính là Không gian của con người lúc sinh ra, mà Không gian thay đổi mà có Thời gian, hay Thời gian chính là thứ tự thay đổi trong Không gian, Không gian Cung Mệnh chính là Cột mốc để tính thời gian cuộc đời của con người, cho nên Đại vận khởi Tại Cung Mệnh.

Từ không gian Trời ( Thiên Can ) và Đất ( Địa chi) kết hợp được Không gian hợp nhất của Trời Đất, Không gian Trời đất hợp lại được yếu tố Thời gian là lục thập hoa giáp. Vậy Năm sinh vốn đã bao hàm Không Thời Gian, và từ đặc tính Không Thời Gian hợp nhất của Trời Đất mà con người được sinh ra ( bản mệnh ). Hay nói cách khác Bản mệnh là con người xuất hiện trong khoảng Trời Đất ở Thời gian năm đó. Vì chưa có tọa độ không gian lúc sinh ra, và chưa có thời điểm cụ thể mà chỉ có năm sinh, cho nên Bản mệnh giống như Linh hồn xuất hiện trong khoảng Trời Đất mà chưa có nơi trú ngụ.

Ngũ hành bản mệnh là Khí tiên thiên có được từ Khí Trời và Khí Đất ở Thời điểm là Năm người đó sinh ra. Tùy vào Thời Điểm mà có thể Khí tiên thiên khác nhau. Quy tụ lại 5 loại Khí tiêu biểu là Khí Thủy, Khí Hỏa, Khí Kim và Khí Mộc, Khí Thổ.

Từ Không Gian Cung Mệnh ( Vị ) hợp nhất Hoa giáp ( Thời ) Cung Mệnh sinh ra Cục. con người đã định vị và đánh dấu sự có mặt ở một thời điểm và không gian cụ thể lúc sinh ra. Cục chính là những thông tin về con người đó, giống như hệ gen của con người mà từ Cục sinh ra 14 Chính tinh, 14 chính tinh là Hình được sinh ra từ Khí của Cục. giống gen con người sinh ra kiểu hình vậy. Bản mệnh chính là linh hồn của con người, Cục và Chính tinh là Khí và Hình của con người. Cung mệnh là nơi trú ngụ của con người.

Ngũ hành Cục chính là thông tin về Khí con người, Khí này hấp thụ từ Trời Đất lúc sinh ra. Tùy vào loại Khí Thủy, Hỏa, Thổ, Kim, Mộc mà thông tin tương ứng mã hóa gen là Số của Ngũ hành Cục. Như Thủy Cục mang Số 2…từ hệ mã hóa đó ta có Chính tinh chính là Hình được triển khai từ mã hóa.


======

Xem Mệnh Thân : lấy Cung Mệnh hợp với Cung Thân, xem Cục Mệnh khắc hay sinh Cục Thân, Mệnh được sinh hoặc khắc Cục Thân là tốt, độ số tăng lên, Cục Mệnh sinh và Khắc Cục Thân là xấu độ số giảm.

Lấy sao Cung Mệnh làm Quân, sao Cung Thân làm Thần, Quân Thần hợp cách thì tốt, tùy theo Cách Cục mà phân định tốt thế nào. Như mệnh Tham lang mà Thân có Hỏa Linh là tốt, độ số gia tăng. Nhưng ngược lại Mệnh Tham lang mà Thân Hỏa Linh thì cũng chưa hẳn là tốt, mà ngược lại có khi còn bần và yểu. Đó là cái lý Quân và Thần. Đồng thời xét Vòng Trường Sinh Cục để định mạnh yếu Cách Cục

Lại như Mệnh có Khôi và Thân có Việt là hợp cách, độ số gia tăng, Mệnh có Thái Dương mà Thân có Đà la là xấu.

Mệnh chủ về Giàu nghèo nên Mệnh hợp với tài tinh và thọ tinh, Thân chủ Quý tiện nên hợp với sao chủ quyền quý như Thái Dương Thiên Tướng, Mệnh Thiên Phủ mà Thân Thiên Tướng là hợp cách, vừa giàu vừa quyền quý.

Mệnh chủ tư tưởng, Thân chủ hành động nên Mệnh hợp với các sao chủ về sáng tạo, quy tắc, lề lối…Thân hợp với các sao mang tính hành động quyết định, cương nghị. Như mệnh TPVT còn Thân SPT là hợp cách này.

Mệnh Nhược Thân Cường thì người này suy nghỉ bồng bột, thiếu suy xét, tư tưởng cực đoan, nông cạn, hay thay đổi bất nhất ( do Mệnh nhược ) nhưng lại thích thể hiện bản than, thích tỏ vẻ nguy hiểm. ưa anh hảo, tiếng tăm, thích được người đời ca tụng ( Thân Cường ). Hơn nữa Mệnh Âm chủ giàu nghèo, Thân Dương chủ Quý tiện, Âm suy, Dương Thịnh thì Âm phù thịnh Dương, mệnh theo thân. Tức là khó giàu, do ít có khả năng kiếm tiền ( mệnh nhược ) lại tiêu phá nhiều ( Thân Cường )

Ngược lại Mệnh Cường Thân nhược thì tuy có giàu có mà nhân cách kém, ví như Địa chủ giàu nứt đổ vách nhưng thuộc dạng keo kiệt, kinh người. Những người này xem trọng tiền bạc hơn là tinh thần ( Thân ). Không trọng hư danh và quyền quý, chỉ xem trọng tiền bạc. Họ mang nặng suy nghỉ thực dụng, ta sẽ thấy họ khá cụt mủn, nhưng đó cũng là lợi thế của người biết thực hành và biết kiếm tiền, nhưng khó giàu lớn được vì nhân cách kém.


======

Trong thực tế Lý Học Phương Đông ta phải chấp nhận 1 điều rằng, người xưa dùng Thiên Văn để lập Tượng mà hình thành nên các môn như ngày nay. Ví dụ như 2 sao Nhật Nguyệt trong Tử vi vốn là mượn Tượng của mặt trăng, mặt trời chứ nói Nhật là Mặt trời, Nguyệt là Mặt trăng thì vừa đúng lại vừa không đúng, chúng ta có thể quan sát thấy rằng với người sinh ban ngày thì có thể Nhật ở các cung ban đêm trên lá số Tử vi, nhưng thực tế làm gì có chuyện đó được. Ta thấy ngay rằng người sinh ban ngày thì Mặt trời cũng phải ở các Cung ban ngày chứ, sao lại nằm ở ban đêm. Như mệnh lập ở Ngọ sinh vào giờ Ngọ mà Thái Dương lại nằm ở Cung Tý, không thấy "khoa học" ở đâu cả?

cho nên Lý Học Phương Đông không thể dùng Duy Lý của Phương Tây để giải thích được, Phương Tây chỉ chấp nhận "tập rõ" như các con số, các định luật...rõ ràng chứ không chấp nhận được "tập mờ" như nguyên lý Phản Phục trong kinh dịch. theo cùng cực tắc biến thì "đi xa tất quay trở lại", nghe rất vô lý, Phương Tây chẳng bao giờ chấp nhận thực tế này. Hay có nhiều người làm khoa học muốn khoa học hóa Lý Học Phương Đông bằng cách Số hóa toàn bộ Kinh Dịch, ta thấy các con số chỉ là cái xác, còn phần hồn thì chẳng thấy đâu. 

Vậy thì ở đây chúng ta phải chấp nhận một thực tế rằng chúng ta học Tử vi là học Tượng chứ không phải là đang học Thiên Văn, Thiên Văn cổ chỉ dùng để diễn Tượng, mượn Tượng của các vì sao trên bầu trời để thiết lập Lý Học Phương Đông. 

Mệnh Thân chỉ dùng ( mượn ) Thiên văn để diễn Tượng cho Mệnh Thân trên lá số Tử vi, ở đây Thuận tháng đến Cung có tháng sinh, mà tháng sinh chính là tiết khí, theo mỗi tháng mà có những tiết khí khác nhau làm chủ, và cái khí này có được là do sự chuyển động của Trái Đất quanh mặt Trời và do sự lệch tâm của Trục Trái Đất, nên ta mượn tạm nó gọi là Khí Thiên vậy. Cần phải nhắc lại là tiết khí hay đề cương lệnh tháng vốn vận dụng Khí Âm Dương Ngũ Hành cho nên không thể dùng Duy Lý Phương Tây vào giải thích được. tiếp theo là sự tự quay của Trái Đất theo nguyên lý "Thiên Tả Hoàn, Địa hữu Chuyển" thì lại được một lý nữa, đó là Trái Đất chuyển động từ Tây sang Đông mà có ngày đêm, thì cái Khí theo giờ ta có thể gọi nó là Khí Địa, kỳ thực ngày đêm cũng chẳng qua là bản đồ Nhiệt của Mặt Trời cả thôi, nhưng khi ta xét cái Khí Địa thì ta đặt vào nó cái Lý Học Phương Đông là Âm Dương Ngũ Hành chứ không phải là một bản đồ nhiệt.

Đến đây thì sẽ thấy Cung Mệnh vốn là sự hợp thành của Khí Thiên Địa hợp...mà thực tế theo quan điểm của Phương Tây ta chỉ thấy một bản đồ nhiệt của ngày đêm và tháng sinh. Chứ làm gì có cái Khí nào đâu, vậy Chu Hy nói "trong khoảng trời đất chỉ có một thứ duy nhất là Khí" Nếu ta tinh ý thì thấy Khí ở đây như giống như năng lượng trong công thức nổi tiếng của Einstien, năng lượng bằng khối lượng * bình phương tốc độ ánh sáng. Nhưng đó chỉ là mượn lý Phương Tây giải thích cho dễ hiểu, chứ năng lượng không phải là Khí theo quan điểm của Chu Hy. vì khi sinh ra thì có khối lượng giống nhau ( sơ sinh ) làm gì có năng lượng khác nhau, mà thực tế theo Tử vi hay Tử bình thì rõ ràng cái Khí Âm Dương Ngũ hành là khác nhau, Tử bình sẽ thấy tứ trụ này Thân Vượng, Tứ trụ kia thân nhược...

Rồi lại sang Cung Thân, thì Cung thân ta ví nó là sự chuyển động tương đối ngoài Trái đất ( Thiên Cầu ) từ đông sang Tây, vậy ta " mượn" cái lý của nó để Thiết lập cung Thân vốn tượng trưng cho Thiên. Từ Cung Mệnh ta lại có Cục Số, rồi đến Chính tinh, tất cả chỉ là cái Khí Tượng vốn mượn từ Thiên văn, có nhiều người cho rằng Chiêm Tinh Học Phương Tây chỉ là Chiêm Tinh giả, Tây cũng Giống như Ta chỉ mượn Tượng diễn ý từ Thiên văn chứ làm sao lấy sao này sao kia trên bầu trời để xem mệnh được, cái đó là phi thực tế. Khổng Minh thấy ngôi sao trên trời rơi xuống và mờ dần là ý Khổng Minh sắp chết vì ngôi sao đó chủ mệnh, rồi lại ngậm mấy hạt gạo để giữ mạng sống. Đó chỉ là cái phóng đại thôi.

KimCa - Lộc Mã Giao Trì

Thiên Mã bản chất Dịch Mã vốn chủ 'vận động'.

Mã là hỷ thì ít là có lợi lộc trong sự vận động, nhiều là được thăng quan tiến chức. Mã là kỵ thì nhẹ là bôn ba lao lực khắp nơi, nặng là bị tai họa, giáng chức. 
Vậy khi nào Mã là Hỷ, khi nào Mã là Kỵ? 

Mã là Hỷ khi có những sao cần đến sự vận động đó, đó là những sao Tĩnh. Mã Động cần gặp sao Tĩnh, Động Tĩnh hài hòa mà phát huy tác dụng vốn có của Thiên mã và sao Tĩnh. do đó Mã phù hợp với Lộc tồn, Thiên phủ...Mã là kỵ khi gặp những sao mang tính động, vì sẽ cộng hưởng làm cho con người bôn ba lao lực, hoặc quá mất cân bằng trong sự vận động của Thiên Mã mà mất tiền mất chức. Ví dụ Không kiếp, Hỏa Linh, Phá quân...

tTrở lại với Mã Lộc tồn, vì sao Thiên Mã hợp Lộc tồn mà không phải Hóa lộc, vì Hóa lộc chủ động, tán khí. Lộc tồn chủ Tĩnh, Tụ khí. Cho nên Mã hợp Lộc tồn mà không hợp Hóa lộc. Thiên mã chính là Hỷ thần của Lộc tồn, bởi lợi lộc con người có được là trong cái sự vận động của tổ chức hay xã hội, không phải lợi lộc trên trời rơi xuống. Người có Lộc tồn ham muốn kiếm tiền và luôn suy nghỉ về tiền bạc, tức là mang nặng ý nghỉ tiền bạc, chính vì mang nặng ý nghỉ kiếm tiền mà họ sẽ tìm cách kiếm tiền,và biết cách kiếm tiền, đó là nguồn gốc tiền bạc của Lộc tồn, chứ không phải ngồi một chổ chờ tiền bạc trên trời rơi xuống. Thiên Mã lộc tồn chính là cách kinh doanh thành đại phú. Và trong cái vòng xoáy tiền bạc của Lộc tồn thì Thiên mã đã giúp họ vận động kinh doanh để có tiền. dần thành đại phú. Kinh doanh vốn chủ Động. Giống nhất như sự vận động của Thiên mã, và lẽ dĩ nhiên cái sự vận động đó là kiếm được tiền bạc bởi lộc tồn là sao vốn chủ tiền bạc và chủ phúc thọ. 

Lại như Lộc Mã không vận động thì không hoạch tài, ví như làm quan thì không dụng đến Lộc Mã, do Cách cục làm Quan lấn át cách cục Lộc Mã. Do vậy Thiên Mã đã ngã theo cách Làm quan thay vì Lộc tồn. Nhưng trong cái sự vận động làm Quan thì nhờ quyền mà có tiền Lộc tồn. 

Lộc tồn là tài, Mã cũng là tài nếu Mã là Hỷ thần trong cái sự vận động cuả nó

KimCa - Sát tinh rốt cuộc là tốt hay xấu?

Đầu tiên là mệnh VCD và sau đó là mệnh có Chính Diệu. Bởi xét cho cùng thì người mệnh VCD là quan tâm hơn cả vấn đề này. Bởi có câu mệnh VCD không yểu cũng bần

Mệnh VCD đã được nhiều nhà Tử vi nghiên cứu và nghiệm lý, có người thì nói là nhà không nóc, nhưng có lẽ ít ai hiểu được bản chất thật sự của nó là như thế nào. Đầu tiên nói đến lý thuyết kinh điển về Chủ Khách, lấy Cung Mệnh làm Chủ, Tam phương Tứ chính làm Khách, mệnh Chủ cường hơn Khách thì thuận lợi, ngược lại mệnh Chủ nhược khách cường là gian nan. Khi mệnh VCD thì thiên di luôn có chính diệu, điều dễ dàng nhận thấy là Chủ nhược và Khách cường, khi Chủ nhược thì khả năng chống đỡ Sát Khí từ Tam Phương Tứ chính là kém đi rất nhiều, đó là yếu tố gây nên tai họa cho Mệnh VCD, hãy lấy ví dụ : Một người khỏe mạnh, cường tráng ( Chủ cường ) thì không sợ phong ba bão gió của xã hội ( Khách ), đi ngoài đường gặp cơn gió thấy cảm giác mát mẻ dễ chịu, khác với một người ốm yếu ( Chủ yếu ) vì sự biến động của xã hội thường cảm thấy mệt mỏi, đi ngoài đường gặp cơn gió bị cảm mạo, sinh bệnh chết ( Khách mạnh hơn Chủ ), cho nên nói mệnh VCD dễ yểu bởi vì Sát Khí từ Khách xung phá Mệnh quá nhiều. Đó là yếu tố quyết định có yểu hay không, nếu mệnh VCD mà Tam phương Tứ chính cát tinh hột tụ không bị sát tinh xâm phạm thì ta xét đến Cung Mệnh làm Chủ và Cung Đại vận làm Khách, ta lại dễ dàng nhận thấy nếu Tam phương Tứ chính cung Mệnh không có Sát tinh thì tất yếu sẽ hội tụ sát tinh ở Đại vận, Chủ Nhược Khách Cường và lại vẫn bị Sát Khí xâm phạm mạnh mẽ, nên dễ yểu khi vận đi qua Cung sát tinh hội tụ được Hóa Kỵ dẫn động. 

Đó là nói đến cái yểu của người mệnh VCD, bây giờ xét đến cái bần của người VCD. Mệnh VCD Chủ nhược Khách cường thì Mệnh sẽ không làm Chủ được Tài Quan, dẫn đến bị động trong hoàn cảnh, gặp một vấn đề dù biết bản chất của nó là gì, nhưng không biết phải giải quyết thế nào, kinh doanh thì không hoạch tài, làm quan thì dễ bị chèn ép, ý chí thì kém, lại hay thay đổi cũng bởi Chủ nhược. Tất nhiên sẽ có người lý luận tôi không yểu cũng chả bần, nhưng ở đây yểu và bần là xét trung bình cho người mệnh VCD trong xã hội.

Qua những vấn đề được nói ở trên thì rõ ràng mệnh VCD cần Tuần Triệt để ngăn chặn Sát khí từ các cung Khách để tăng thọ, Đối với giàu hay nghèo thì lại phải xem những yếu tố khác nữa. bởi có câu mệnh VCD hội tam không phú quý khả kỳ. Nhưng với Tuần Triệt đã giúp cho bản cung được vững vàng hơn qua việc đánh chặn nguy hại từ bên ngoài. Đặc biệt mệnh VCD quan trọng xét Tứ hóa, và Chủ khách xem có được cát hay không, Khách đa cát tinh hội tụ và Tam hóa thì vẫn có thuận lợi. vì sao mệnh VCD cần hung tinh đắc địa ( kình, đà, hỏa, linh, không, kiếp, hình, hổ ) là bởi vì Hung tinh đắc địa có thể lấy lại sự cân bằng giữa Chủ và Khách. Cát tinh hay hao bại tinh quá yếu không đủ lực. Nhưng mệnh VCD có Tuần khác với mệnh VCD có triệt, điều này sẽ được nói ở phần sau.

Bây giờ ta xét đến người Mệnh có Chính Diệu. Một điều hiển nhiên đó là không có một Chính tinh nào đứng riêng lẽ với nhau, và thay vào đó là đi theo một tổ hợp. Ta lấy Ví dụ : người có mệnh Tử vi. Tử vi luôn tam hợp với Liêm Trinh và Vũ khúc. Theo lý thì Liêm Trinh hỏa ==> Tử vi Thổ ==> Vũ khúc Kim. Đó là sự lý sinh của Ngũ hành, Liêm trinh là Nguyên thần của Tử vi, khi Tử vi bị Tuần Triệt vì Nguyên thần Liêm trinh không sinh trợ được Tử vi, Tử vi hỏa tương thông mà sinh được Vũ khúc Kim, đẫn đến Khí Thổ ứ đọng, bế tắc. Vì vậy mệnh Tử vi Tuần Triệt là kém theo lý ngũ hành. Nhưng Tử vi gặp Tuần thì đỡ hơn gặp Triệt, bởi cái lý Âm Dương. theo Tượng thì ví Tử vi như là vua, Liêm Trinh và Vũ khúc là cận thần, Tử vi gặp Tuần Triệt được ví như Vua bị cô lập, không được trợ giúp của Quần thần, giống vua bù nhìn. lẽ dĩ nhiên là kém.

Tuần là được hiểu là Thời Thiên chưa tới, nơi có Địa mà không có Thiên, thiên chưa tới thì sao Địa hóa thành. Cho nên gọi là Không vong. Cũng vì có Địa mà không có Thiên nên Tuần bản chất mang tính Âm. Đối nghịch với Triệt mang tính Dương, điều dễ thấy là nhiều người luận Triệt là chặt chém, Tướng Triệt là tướng mất đầu, Mã triệt là Mã què, âu cũng là do tính Dương của Triệt. Tử vi Dương ngại gặp Tuần hơn Triệt. Tuần tác dụng mạnh lên Tứ hóa, vòng lộc tồn, xét theo Toàn không cách thì Tuần đắc cách hơn là Triệt. Triệt tác dụng mạnh lên sao an theo giờ, ngày, tháng và vòng Thái Tuế. Tuần chế Địa kiếp mạnh hơn Triệt, ngược lại Triệt chế Địa không mạnh hơn Tuần. Tuần chế địa kiếp và Triệt chế Địa không kém hơn vì cái lý cộng hưởng. và cũng bởi cái lý Địa không mang tính Âm, Địa kiếp mang tính Dương. 

Cụ Thiên Lương cho rằng, Tuần Triệt hóa giải nhau ở Đại vận, tức là mệnh Tuần đến vận gặp Triệt thì sẽ được hóa giải. Điều này là có lý của Cụ. Xét Tuần Âm và Triệt Dương, thì Tuần Triệt sẽ kìm chế nhau ở Vận, do đó khả năng của Tuần Triệt ở Đại vận đã giảm đi nhiều. Nhưng không phải là sẽ mất đi Tuần Triệt, giống như Không Kiếp gặp nhau ở Tứ góc thành Âm Dương hợp nhất mà đắc địa, đắc địa thì ít hại hơn là hãm.

Lý Xuất Không Điền Thật. Tuần Triệt được hiểu là Thời chưa tới, khi có Lưu Thái Tuế đến thì đó chính là Thời tới, mà thời tới thì Không Vong sẽ không còn, thời tới khi Lưu Thái tuế xung cung Tuần Triệt hoặc ở ngay cung có Tuần Triệt. Xuất không được hiểu là Không vong đã mất, nếu mệnh có Tuần Triệt thì Lưu Thái Tuế đến mệnh hoặc ở Di xung mệnh, khi Không vong đã mất thì những gì còn lại ở Cung mệnh chính là bản chất thực sự vốn có của nó, như tổ hợp sao phá hay hợp cách...từ đó sẽ thấy được sự thật giả về giàu nghèo, thọ yểu...( Điền Thật ). Do vậy đối với mệnh VCD rất cần chú ý đến vận có Lưu thái tuế xung mệnh, vì khi đó đã mất Không vong, nếu hạn nhập năm đó cũng bị kỵ xung thì quyết là năm đại họa. Đối với người có Chính diệu mà tổ hợp sao đi hợp cách và tốt thì năm đó là năm thăng tiến tài lộc.

Lý giải thêm về Thiên tướng sợ gặp Tuần Triệt, Thiên tướng và Phá quân luôn ở thế Đối Xung ( không phải Đối Cung ). Tương và Phá kìm hãm lẫn nhau, lực tương tác của Phá lên Tướng ngang bằng với lực của Tướng lên Phá. Nhưng khi có Tuần Triệt thì điều đó đã bị phá vỡ, đầu tiên phải nói đến Phùng Phủ khán Tướng, xem Thiên Tướng phải xét đến thiên Phủ, khi Thiên tướng bị Tuần Triệt thì Phủ không thể giúp được Tướng. Đó là đặt Tướng vào thế yếu khi so sánh với Phá, do vậy cấu trúc Đối xung bị phá vỡ, đặt Thiên tướng vào thế yếu. Lại xét phân đối cung lưu chi thể dụngng ), nguời mệnh Thiên tướng thì lấy Thiên Tướng làm Thể, Phá Quân làm Dụng, Tướng ở thế yếu thì Thể bị Dụng khắc theo lý đối xung, vì vậy mà nói Thiên tướng sợ gặp Tuần Triệt, vì lý Thiên tướng mang tính Âm nên sợ gặp Triệt hơn Tuần. Có lẽ vậy mà Tướng Triệt là tướng mất đầu chăng? lẽ Triệt chặt chém âu cũng rất có lý (tính Dương)

KimCa - Thai Tọa Quang Quý

Quang Quý Thai Tọa là 4 sao chủ về Đạo mang tính tu hành, Quang Quý như là quý nhân, nếu hành động theo chính đạo thì sẽ có quý nhân cứu vớt. Mệnh vận hội đa sát tinh nhưng biết giữ lấy Đạo thì sẽ được Quý nhân ra tay cứu vậy. Nhưng ngược lại Quang Quý cũng là Sát thủ nếu hành động mang tính phi đạo lý theo sát tinh. Thì Quang Quý chính là liều thuốc độc. Người như vây chắc chắn không được ân nhân giúp đỡ mà ngược lại phải trả giá vì thế Quang Quý mang ý nghĩa nhân quả. 

về nguyên tắc thì Quang Quý định vị Xương khúc, nó là bổ đề của Xương khúc có tác dụng điều chỉnh Không kiếp. Quang quý chủ quý hiển và tu hành, Hỏa Linh tuy là bạo tinh nhưng người có nó nếu có cát tinh hướng dẫn thì dễ là người có niềm tin vào tâm linh, vì Hỏa hình thường chủ về việc tâm linh, huyền bí. người có Hỏa linh nếu không có gia thêm ác sát tinh thì tinh thần minh mẫn, thần kinh nhạy cảm và họ dễ tin ở tâm linh. Và Quang Quý có thể điều chỉnh họ tin vào niềm tin tâm linh để hành động mang tính Đạo lý. Đối với Kình Đà đại diện cho Thiên trong Tam tài, nó có hiệu lực mạnh khi đụng độ Vòng Thái Tuế. Nếu đơn lẻ thì không đáng ngại lắm. quang Quý Thai tọa có thể điều chỉnh được. 

Sát tinh hoạt động theo cơ chế Dương chủ về Động, Động quá mà tự gây nguy hiểm cho bản thân hoặc bị người khác gây nguy hiểm, vì dụ : không kiếp đòi đập cũ xây mới, làm ngược lại với xã hội, tuy có nhiều phát kiến hay nhưng xã hội chỉ nhìn nhận cái xấu của KHông kiếp hơn là cái tốt. Do đó Không kiếp ở đây là nguy hại do việc Động của nó gây ra, tất nhiên là khi sinh ra mà mệnh hội sát tinh dù chưa Động thì cũng đã vất vả nghèo khó rồi, nhưng đường đời mà không dụng đến sát tinh thì nó không phải là trọng tâm của Cách Cục ảnh hưởng đến mệnh tạo nên nó không gây tác họa nhiều. Vì vậy có thể nói Sát tinh gây họa do yếu tố Động mà ra. Người có Sát tinh không chịu yên thân, nếu đắc địa thì còn mang tính hành Đạo, nếu hãm địa thì tiểu nhân, thủ đoạn là phải nói. Đó là nguồn gốc gây họa do Động của Sát tinh gây ra.

Ngược lại với sát tinh, Tam Thai với Bát tọa là sao chủ Tĩnh, như một người ngồi Thiền vậy. No mang ý nghĩa tu Đạo, nên nó có tác dụng điều chỉnh tính Động của Sát tinh. Nhưng nếu một người nào đó ăn vào Sát tinh mà hành động cuồng vọng thì cũng có nghĩa là phải trả giá bằng việc nằm ở bệnh viện, bị liệt ( ngồi một chổ là đặc tính của Thai Tọa )

Trong các cách cục gây họa thì sát tinh là tác nhân chính, còn Cát tinh chính là chất xúc tác gây họa. Đó là nguyên lý Cát mà hóa hung thì cực hung, Hung mà hóa cát thì rất cát. trong hung có cát khác với trong cát có hung, và Cát tinh chính là chất xúc tác làm cho Cách Cục trở thành hiện thực.

KimCa - Luận Bàn Tử Vi

Nguyên lý của Cục

Cục là nặng lượng của Chính tinh, Cục chính là Khí, Chính Tinh là Hình, Cục chuyển nặng lượng từ Khí à Hình

Tại mỗi cung có Nạp Âm cung đó, Nạp Âm, để xác định nguồn năng lương của Chính tinh và các thần sát trong Cung đó, Cục để xác định cho toàn bộ lá số.

Khi xét vận hạn thì lưu cục chính là nguồn năng lượng hậu thiên của hệ chính tinh

Do Cục là nguồn năng lượng nên sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ lên Tứ hóa, Tứ hóa cũng là một dạng Khí giống với Cục, cho nên Cục sẽ tác động mạnh lên Tứ hóa tiên thiên và lưu Cục tác động mạnh lên Tứ hóa hậu thiên, hay tứ hóa Cung vị Đại vận.

Khí trong Tử vi

Khí trong Tử vi quan trọng nhất nằm ở Vòng Trường sinh cục và Ngũ hành Cục, mệnh ở sinh vượng mà hợp với Cục thì sẽ giàu có, ngược lại thì nghèo, Thân ở chổ Sinh Vượng thì định là quý. Xem Cách cục làm chủ ở Cung Mệnh có hợp với Cục số hay không, sao nào làm chủ cách cục chính là Quân, sao trợ làm Thân, Cách Cục cốt yếu phân theo Quân, như Cách Tham Hỏa Linh thì Tham lang làm Quân, nên Tham Hỏa Linh mang hành Mộc, hợp với Ngũ hành Cục Thủy hay Mộc, mệnh lại Thủy, Mộc thì định là rất giàu có. Lại phải xem Cách Cục có Động hay Tĩnh, Động thì Cách Cục phát huy tác dụng, mà tĩnh thì vô dụng, như người Kinh Doanh hợp với Lộc mã, nhưng không kinh doanh thì Lộc mã không động. Cách Cục chính là Hình trong Tử vi, còn ngũ hành Cục là Khí, Cách Cục có hoạt động hay không là Động. 

Lại nói Tham hỏa linh Cách Mộv hợp Cục Mộc và Trường sinh ấy là vì Hỏa Linh hỏa đã sưởi Ấm và điều hòa Thủy nên thành cách. Hỏa làm cho Mộc được tươi tốt, giống ánh sáng mặt trời vậy. Cho nên nói Mộc Cục và Thủy Cục thống suất thì định là hết sức tốt đẹp.

Cách cục bị Tuần Triệt thì bị hạn chế hoạt động rất nhiều, đó là Không Động vậy.

Luận Tuần Triệt 

Cung có Tuần Triệt chủ yếu luận Tam hội, khi không có Tuần Triệt luận tam phương tứ chính, Cung Ngọ Mùi, Tý Sửu mà có Tuần Triệt nhất định bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tam hội. Cứ lấy theo đó mà luận.

Luận Nam Bắc Đẩu

Các sao Bắc đầu hợp với người tuổi Tây Bắc, các sao Nam đẩu hợp với người tuổi Đông Nam, sao Bắc đẩu có khả năng chế dụng sao Nam đẩu và ngược lại, như Tử vi chế Hỏa linh, Thiên Phủ chế kình đà, sao Bắc Đẩu chủ về Ngoại nhu Nội Cương, sao Nam đẩu chủ về Nội nhu Ngoại cương, Sao Bắc Đẩu nhập hạn 5 năm đầu Đại hạn và nửa đầu năm tiểu hạn, sao Nam Đẩu nhập hạn chủ về 5 năm cuối nửa năm cuối tiểu hạn. Mệnh có sao Bắc Đẩu, Thân sao Nam Đẩu là hợp cách. Đó là vì nhu cương được bổ khuyết và trợ lực cho nhau.
 

Thursday, August 13, 2015

AlexPhong - Chân Mệnh Thiên Tử

- Ung Chính, Nam, 13/12/1678 DL, 4h07 giờ Dần.

Posted Image

Nhận xét:
Đây là lá số Đế Vương quyền quý, tay nắm ngọc ấn mình khoác hoàng bào đầu đội vương miện, nhưng không phải vị chân mệnh thiên tử. Việc lên ngôi cũng để lại nhiều dị nghị tranh cãi. Số phận đưa ông lên làm vua chỉ để dọn đường cho Càn Long con trai ông.

Bát tự của ông thiếu một chút thì hòan hảo:

Mậu Ngọ Giáp Tý Đinh Dậu Nhâm Dần
Hỏa khắc kim, hỏa khắc kim. năm tháng xung, nhưng ngày giờ không xung. Về sau, con trai ông là người nhận truyền tinh của cha, đồng thời bát tự cũng thể hiện sự cân đối viên mãn. Đúng là chuyện kỳ lạ của giới lý số. Có thể nói Ung Chính làm vua nhờ sự nỗ lực của bản thân, và sự suy nhược của các hoàng tử khác. Trong bó đũa chọn chiếc lớn nhất làm cột cờ. Mệnh cách thiên tử của Ung Chính là hình bóng mệnh cách của Tưởng Giới Thạch, cũng tên là Trung Chính. Làm chúa thì thừa nhưng làm vua thì thiếu.

- Càn Long, Nam, 25/09/1711DL, 0h07 giờ Tý.

Posted Image

Nhận xét:
Càn Long là chân mệnh thiên tử, cả bề ngòai cũng như số mệnh. Sống đến 89 tuổi mới chết, trị vì hơn 60 năm, vợ con đề huề thời cai trị là thời cực thịnh về quân sự và kinh tế.

Bát tự của Càn Long năm tháng ngày giờ tương xung thành hình vuông chằn chặn, đồng thời nạp âm của tứ trụ liên hoàn tương sinh theo chiều thuận: giờ sinh năm, năm sinh tháng, tháng sinh ngày.

Lá số tử vi thì cục sinh mệnh, âm dương thuận lý. Có thể nói lá số của Càn Long là do vẽ ra nên mới được hoàn hảo như vậy.
Lá số Ung Chính cục sinh mệnh, nhưng âm dương nghịch lý, kém đến 3 phân.

Năm 25 tuổi vận Cự Nhật Lộc Quyền Càn Long lên ngôi làm vua phán chát đến năm 86 tuổi thì thoái vị. Vì tứ trụ hòan hảo nên anh minh may mắn, sức khỏe cũng rất cường tráng. Có điều gần 30 vạn đại quân sáng cướp phá Đại Việt bị Quang Trung Đại Đế đánh cho tan tành.

- Bảo Đại, Nam, 22/10/1913DL, 4h07 giờ Dần
Posted Image

Nhận xét:
Bảo Đại khoác long bào làm vua, nhưng không phải chân mệnh thiên tử mà bị phê là vua bù nhìn. Đời thực đúng vậy, ai cũng biết nên không cần nhắc lại. Sinh mạng chính trị của ông ngắn ngủi nhưng tuổi thọ của ông mãn ý. Lá số tử bình khá đẹp với hai cặp thủy mộc tương sinh cân đối. Lá số tử vi với mệnh cục tỷ hòa có điều âm dương nghịch lý.

Thiệu Trị, Tự Đức, Khải Định, Thành Thái, Duy Tân đều là những vị chân mệnh thiên tử (vua Khải Định tuy là chân mệnh thiên tử nhưng tiếc là lại khuyết một nửa cách cục). Trong số đó thì thời Tự Đức còn nắm phần thực quyền rồi mất dần dần vào tay giặc Pháp. Nhưng điều đó chẳng đáng kể vì hai cha con Thành Thái và Duy Tân tuy chẳng có thực quyền, cùng bị đi đày lại chính là những vị chân mệnh thiên tử thực thụ của Việt Nam. Chứ vua Đồng Khánh chỉ là thiên tử mà không phải chân mệnh. Thành Thái mệnh Liêm Sát tính khí quật cường từ nhỏ đã cá tính, càng lớn càng lăm lẽ chống Pháp, tuy người Pháp nắm ông trong bàn tay nhưng vì ông là vị chân mệnh thiên tử nên ông luôn muốn làm theo ý mình đó là chống Pháp. Đến đời con ông là vua Duy Tân cũng được truyền tinh Thất Sát thủ mệnh cư ngọ, tuy cách cục không bằng cha mình nhưng cũng quật cường quyết liệt. Pháp không chịu nổi hai cha con ông này bèn cho đày ra đảo Reunion. Sau này Duy Tân cũng vợ con đề huề, ông còn tham gia thế chiến hai chống phát xít Đức và chết trong tai nạn máy bay. Vua Thành Thái cũng sống đến 75 tuổi cho thấy mệnh của ông không đơn giản khi các vua nhà Nguyễn như Đồng Khánh Khải Định Minh Mạng Tự Đức đều chết ở tuổi 25, 41 và 55. Vua Thành Thái mệnh cục tỉ hòa âm dương thuân lý, cách cục ưu hơn rất nhiều so với vua Duy Tân âm dương thuận lý nhưng cục khắc mệnh. Chân mệnh của vua Thành Thái cũng sáng rõ hơn chân mệnh của vua Duy Tân một bậc. Ứng nghiệm kỳ lạ với đời thực về thời gian làm vua và tuổi thọ của ông.

- Đồng Khánh, Nam, 19/02/1864 DL, 14h07 giờ Mùi
Posted Image

Vua Đồng Khánh (giờ mùi 19/2/1864) là vị vua đặc biệt điển hình cho lá số tử vi mẫu, đó là tuy các sao hội chiếu sặc sỡ nhưng chỉ mang tính thủ tục. Cách cục chân mệnh quyền lực của ông kém nhất trong các vua kể trên. Tử Phá Hóa Quyền rơi thế Thiên Không tức giả quyền. Ngôi Tử Vi không nằm trong tam hợp Thái Tuế tức không phải chân mệnh. Ngôi Tử Vi cũng không ôm được Quốc Ấn coi như cái vỏ ngoài cũng chẳng có luôn. Ngoài ra, bát tự của ông bị liên hòan nghịch khắc giờ thổ khắc ngày thủy ngày thủy khắc tháng hỏa, tháng hỏa khắc năm kim nên nhà vua yểu mệnh chỉ thọ 26 tuổi.

Chân mệnh thiên tử là cách gọi hình ảnh cho ngôi Tử Vi (tượng vua, thời nay là định mệnh) nằm trong tam hợp Tuế Hổ Phù bất kể mệnh thân ở đâu. Nếu ngôi Tử Vi không thuộc tam hợp Thái Tuế nhưng thuộc tam hợp Quốc Ấn Lộc Tồn thì coi như có số khoác hoàng bào cầm ngọc ấn nhưng chưa đúng chân mệnh, lên ngôi gặp nhiều dị nghị như Ung Chính hoặc ngồi trên ngai vàng nhưng không thi triển được vai trò hoàng đế như Bảo Đại. Nếu ngôi Tử Vi không gặp Tuế Hổ Phù, mà Thiên Phủ gặp Tuế Hổ Phù thì số chỉ đáng làm chúa như Tưởng Giới Thạch chứ chưa đáng mệnh vua. Trừ người phụ nữ như Victoria của Anh Quốc thì lại là chân mệnh nữ hoàng vì Thiên Phủ là tượng nữ, tượng phó so với Tử Vi.

Theo định nghĩa chân mệnh này thì Thành Thái và Duy Tân chính là chân mệnh thiên tử, hai bố con rất cứng của hoàng gia. Tuy sống trong cảnh không có thực quyền nhưng luôn khao khát vươn lên nắm giữ vận mệnh quốc gia dân tộc. Chân mệnh không có nghĩa là có thực quyền, chân mệnh là quyết tâm nắm giữ vận mệnh. Cho dù thất bại và bị đi đày, nhưng hai cha con ông mãi mãi là chân mệnh thiên tử của Đại Việt. Khi Thành Thái bị phế ngôi, ông cười khảy ký đồng ý rồi quăng bút đi vào trong, đã làm vua quyết phải làm chủ chứ không làm bù nhìn. Bảo Đại ngôi Tử Vi nắm Quốc Ấn cho nên giữ ngọc ấn khoác hoàng bào lên ngôi, tiếc là không đúng vị Thái Tuế cho nên không nắm được vận mệnh chính mình chứ chưa nói vận mệnh quốc gia dân tộc. Nay xem số thấy vậy trước đây cứ trách oan ông, sức người gồng gánh vậy cũng quá giỏi rồi.

Bạn tìm trong lá số của bạn xem có khả năng làm chủ số phận chính bạn không ? 

Read more: http://tuvilyso.org/forum/topic/30036-chan-menh-thien-tu/#ixzz3iksXop3M
TuViLySo.Org 


Nói chung những người đặt câu hỏi ở đây đều là những người hỏi thông minh. Nghe hỏi xong tôi biết các bạn đã tự có câu trả lời.
View PostDoKhuong, on 06/08/2015 - 20:02, said:
cứ giả thiết lá số Quang Trung Đại Đế là đúng! thì vũ khúc kỵ đà tại phúc mà yểu thật đáng tiếc! đúng là ông trời không cho ai tất cả!
Cục sinh mệnh, âm dương thuận lý. Mệnh nắm giữ hai vòng Tuế Hổ Phù và Sinh Vượng Mộ, chỉ thiếu vòng Lộc Tướng Ấn mà còn chết yểu thì còn trách ai ? LNĐV năm 41 tuổi đóng đúng cung mệnh như một sự khẳng định trong im lặng.
View PostLibra, on 06/08/2015 - 20:10, said:
Mệnh thiên tử khai quốc có gì khác với mệnh thiên tử thừa kế ?
Hỏi xong đã biết Libra tự có câu trả lời. Mệnh Khang Hy với sự cộng hưởng của ba vòng Tuế Lộc Sinh tại vị Sát Phá Tham, cho nên cuộc đời đánh đâu thắng đấy, làm vua trên lưng ngựa. Hay nói cách khác ông là chân mệnh thiên tướng đúng hơn chân mệnh thiên tử. Chân mệnh thiên tử theo lý Thái Tuế thiên về cai trị vận hành của ngôi Tử Vi hơn là khai phá như Sát Phá Tham. Hóa Quyền lọt vào tam hợp Tuế Hổ Phù coi như thực quyền đã trong tay tùy ý chém giết với ngôi Thất Sát tại ngọ. Thế cục Sát Phá Tham của Khang Hy có hơn Quang Trung một bậc, vì Quang Trung chỉ cộng hưởng được hai vòng, còn Khang Hy nắm trọn thiên địa nhân trong tay nên làm vua trong đời thực với ý nghĩa "chí tôn". Chứ nói cai trị, thì ban đầu những lãnh thổ và con người như Ngao Bái Tam Vương Đài Loan không thuộc về Khang Hy nên không thể nói là cai trị. Ngôi Tử Vi của lá số Khang Hy coi như phế ở thế Tuần Kiếp.
View Postzoomwrjter, on 06/08/2015 - 20:31, said:
Anh ơi chân mệnh thiên tử và chính mệnh thiên tử khác nhau chỗ nào ?
Hỏi rất hay. Khác ở chỗ "chân" và "chính". Về ngôn từ thì "chân" là thực sự còn "chính" là đúng vị. Nhưng lấy Thái Tuế làm định nghĩa "chân mệnh" thì cứ có Tử Vi Thái Tuế đó là chân mệnh thiên tử, Sát Phá Tham Thái Tuế là chân mệnh thiên tướng, v.v... Nếu em nói tôi không thích lấy Thái Tuế làm cơ sở mà lấy vòng Trường Sinh làm cơ sở, thì cũng được, khi đó em có hệ quy chiếu khác. Nhưng hệ quy chiếu nào thì cũng cần rõ ràng mới xem được.

Có nhiều cung bậc của cách cục. Đầu tiên cần Tử Vi lọt vào tam hợp Thái Tuế, nếu lại đúng vị mệnh tài quan càng tốt bản mệnh đỡ phải đi tìm, dù không lọt vào mệnh tài quan thì vẫn là lá số của mình, không cần biểu hiện cũng vốn có. Nhưng Tử Vi Tuế Hổ Phù nhập thiên di sẽ không tốt bằng nhập mệnh. Sau đó lại có thêm Lộc Tướng Ấn tốt thêm, có Sinh Vượng Mộ nữa thì hoàn hảo. Lại có Khoa Quyền Lộc thì thêm phần rực rỡ.

Lưu ý ba vòng Tuế Lộc Sinh là căn bản của cách cục lá số. Các phụ tinh quý tinh khác thì chỉ là hoa thêu trên gấm. Nếu hỏng 3 vòng này rồi thì các phụ tinh khác chỉ là hư ảo. Như vua Đồng Khánh tuy phụ tinh cát tinh sặc sỡ, có Hóa Quyền nhưng nhìn kỹ thì Quyền nhập Thiên Không tức là hư quyền có Quyền cũng như không.

Nền tảng khung cốt của tòa cao ốc thực chất là phần đơn giản và rẻ tiền nhất nhưng lại đóng vai trò quyết định tầm thế của cao ốc đó. Vôi ve khung kính lòe loẹt về sau cũng như phụ tinh thêm vào hoàn thiện, không thể thiếu nhưng không phải cốt lõi. 

Read more: http://tuvilyso.org/forum/topic/30036-chan-menh-thien-tu/#ixzz3ikslfvau
TuViLySo.Org 


TonNgoKhong75kg, on 06/08/2015 - 23:39, said:
cung nào có Thiên không là cung đó thành hư ảo hết hả anh

Xem Thiên Không của Càn Long hoàn mỹ như nào.

Thiên Không của Bảo Đại cũng đẹp.

Tứ Không, Mộc Suy Tuyệt, song Hao, Vô Chính Diệu hoặc Sát Phá Tham là những tổ hợp nên gặp nhau để có lá số tốt.

Trúc La hạn chính là Sát Phá Tham+Đào Hồng (chính là Thiên Không Kiếp Sát)+Mộc Suy Tuyệt+cung Vô Chính Diệu.

Điểm thú vị là Trúc La hạn không kể sát hình tinh Tuần Triệt không vong mà chỉ là cộng hưởng tất cả các tam hợp tuyệt sát không của các vòng:
+Thái Tuế: Thiên Không Kiếp Sát Đào Hoa là tam hợp không sát của vòng Thái Tuế
+Trường Sinh: Mộc Suy Tuyệt là tam hợp tuyệt khí của vòng Trường Sinh
+Chính Tinh, Sát Phá Tham chính là mộc suy tuyệt của vòng chính tinh, Vô Chính Diệu chính là vị trí giống như Thiên Không. 

Read more: http://tuvilyso.org/forum/topic/30036-chan-menh-thien-tu/#ixzz3ikss3quL
TuViLySo.Org 


Tứ đại giai không:
Năm không: tuần
Tháng không: triệt
Ngày không: VCD
Giờ không: Địa Không

Cho nên mệnh VCD hội Tam Không chính là cách cục Tứ Đại giai không, hội song Lộc để khẳng định thêm hoa thêu trên gấm, tất phú quý khả kỳ.


Read more: http://tuvilyso.org/forum/topic/30036-chan-menh-thien-tu/#ixzz3ikt7BU6E
TuViLySo.Org 


Tứ sát:

Sát Phá Tham của vòng chính tinh
Mộc Suy Tuyệt của vòng Trường Sinh
Kình Đà của can năm sinh
Không Đào Sát của chi năm sinh

Đến đây ta đã có thể xem tử vi theo hệ thống.

Với yếu lĩnh lượng đổi chất đổi, khi có 1 thì gọi là mầm mống, khi có 2 là thành hiện tượng, khi có 3 thì cực điểm, nhưng khi có 4 yếu tố hội tụ thì lại phản vi kỳ, không trở thành có, mà sát lại đảo thành cát.

Tứ sinh:
Tử Vũ Liêm của vòng chính tinh
Tuế Hổ Phù của vòng thái tuế
Lộc Tướng Ấn của vòng lộc tồn bác sỹ
Sinh Vượng Mộ của vòng trường sinh

Tứ sinh được mô tả trong thế chân mệnh thiên tử của topic này. Tứ sinh cộng hưởng với nhau thì hoàn mỹ.

Việc xem số xoay quay Tứ Không, Tứ Sát và Tứ Sinh. Dựa vào hệ thống này thì giờ đây chúng ta có thể xem tử vi một cách toàn diện, không thiếu sót. Và hiểu được cái gì là chính cái gì là phụ. Sau khi đã xác định được khung số, việc xét đoán các tiểu tiết sẽ có định hướng và bớt mông lung hơn, tất nhiên sẽ tự tin và kết quả sẽ chính xác hơn. Xin chúc mừng cộng đồng biết được điều này.

Mệnh Tài Quan trong cách hiểu tổng quát thì cũng là một loại "sao". Loại sao này có thể tổ hợp với bất cứ bộ sao nào phía trên để ra chi tiết cuộc đời. Tức là bạn có 5 yếu tố để xét số rồi đấy. Trước giờ bạn nghĩ cứ phải nhìn từ mệnh tài quan nhìn đi. Giờ bạn đã biết có thể nhìn từ bất cứ cung nào cũng là lá số của mình, và mệnh tài quan cũng chỉ là một tam hợp.

Khi 5 yếu tố cộng hưởng: Mệnh tài quan có Tử Vũ Liêm+Tuế Hổ Phù+Lộc Tướng Ấn+Sinh Vượng Mộ.

Nếu Mệnh Tài Quan là tượng của Sinh Vượng Mộ thì Điền Tật Bào chính là tượng của Mộc Suy Tuyệt. Giả sử Điền Tật Bào của bạn hội tụ 4 yếu tố tứ sinh thì bạn có tứ sinh+ 1 Tuyệt tất nhiên sẽ không tốt bằng ngũ sinh khi Mệnh Tài Quan + 4 sinh rồi.

Và khi đại vận đi đến cung Tật, bạn cũng ngầm hiểu giống như mình từ vị trí Sinh Vượng Mộ đến vị trí Mộc Suy Tuyệt ắt không thể tốt đẹp. Đó là lý thống nhất về quy luật của tất cả các tam hợp. 

Read more: http://tuvilyso.org/forum/topic/30036-chan-menh-thien-tu/#ixzz3iktBEqjo
TuViLySo.Org 


Posted Image

Các bạn tham khảo lá số Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm để thay đổi nhận thức về Không Vong.
Đây là một lá số tốt. Mệnh sinh cục, âm dương thuận lý.
Cách cục của mệnh là Nhật Nguyệt đương đầu.
Ngôi Tử Vi nắm được vòng Sinh Vượng Mộ, tuy nhiên mắc kẹt với hai tam hợp sát tuyệt là Sát Phá Tham và Điền Tật Bào, và bị Tuần Không án ngữ, cho nên địa vị của Tử Vi có phần bị hạn chế. Ngòai ra có Khoa Quyền Lộc Khôi Việt Quang Quý Xương Khúc xuất hiện khẳng định thêm sự quý hiển của ngôi Tử Vi.

Cung Quan của lá số này giúp đa số người xem tử vi thay đổi nhận thức của họ về tử vi. Cung quan Vô Chính Diệu, có Triệt và Địa Không án ngữ là 3 yếu tố Không tụ hội tại chỗ. Vị trí đó lại chính là vị trí Tuyệt địa của vòng Trường Sinh. Và điều quan trọng là Thái Tuế đúng vị khẳng định tổ hợp không sát hi hữu nói trên là do mình chủ quản. Kể thêm thì cung quan này giáp Tử Phủ, giáp Tuần và Thiên Không coi như có 5 yếu tố Không tụ hội: Tuần Triệt Thiên Địa và Vô Chính Diệu. Không những được nằm đúng tam hợp mà còn chính vị (Ví dụ cùng là Tuế Hổ Phù nhưng vị trí Tuế đương nhiên khác Hổ, cùng là Mộc Suy Tuyệt nhưng Tuyệt chắc chắn khác Suy).

Tuy nhiên, Hóa Quyền của ông được điều khiển bằng Sinh Vượng Mộ kém cách cục Hóa Quyền Tuế Hổ Phù một bậc. Bạn xem lá số Khang Hy Ung Chính đều nắm Hóa Quyền bởi Tuế Hổ Phù. Còn vua Bảo Đại nắm Hóa Quyền bằng ngôi Trường Sinh.

Bạn lại thắc mắc liệu Tuế Hổ Phù và Sinh Vượng Mộ có được coi là cát, để bù trừ với các yếu tố hung sát khác của lá số ? Câu trả lời là không. Vì hai vòng sao này làm nền cho các sao khác thủ diễn. Nói cách khác cách cục không sát như cung quan của lá số này có gặp Tuế Hổ Phù hay Sinh Vượng Mộ thì cũng không làm cho Tuế Hổ Phù và Sinh Vượng Mộ xấu đi. Tuế Hổ Phù và Sinh Vượng Mộ cũng không làm các sao sát không tốt lên. Mà bạn chỉ cần hiểu đơn giản rằng cách cục không sát đó thuộc quyền chủ động của lá số. Cung quan có cách cục không sát lại đóng đúng Thái Tuế nghĩa là ông PGK nắm được cung quan đó.

Cách xem cổ điển về Thái Tuế của phái Thiên Lương là tam hợp mệnh tài quan trùng tam hợp Tuế Hổ Phù nghĩa là nắm được vận mệnh của mình. Tuy nhiên họ đứng từ mệnh tài quan nhìn ra vũ trụ cho nên chỉ thấy lá số qua mệnh tài quan. Chứ không thấy được một lá số hiển nhiên tồn tại bất kể mệnh tài quan ở đâu. Nếu bị bó vào mệnh tài quan thì không cách nào nhìn ra ngôi vị Tử Vi như trên lá số này. Sự khác biệt chỉ ở hai hướng nhìn, còn vấn đề cũng chỉ có một. Như Điền Tật Bào cũng chỉ là một loại tam hợp. Nếu Tử Vũ Liêm đóng Điền Tật Bào ta nói kém hơn đóng Mệnh Tài Quan, vì mệnh tài quan là sinh vượng mộ còn điền tật bào là mộc suy tuyệt. Chính vì vậy cung Tật Ách được cụ thể hóa bằng sao Thiên Sứ.

Thiên Sứ đặt ra không phải để chơi, cũng không phải để nhấn mạnh thêm cung Tật vì cung Tật vốn đã có tên là cung Tật không cần nhấn mạnh thêm. Đặt ra sao Thiên Sứ để xác lập ảnh hưởng của cung Tật Ách tới vị trí tam hợp và xung chiếu. Vì chẳng thể nào đứng ở cung điền nói rằng cung Tật chiếu tôi, mà chỉ có thể nói rằng sao Thiên Sứ chiếu tôi, nguyên do là nằm trong tam hợp Điền Tật Bào. Ba sao cố định còn lại là Thiên Thương, Thiên La, Địa Võng cũng có lý như vậy. Đặt ra không phải để chơi không, mà để cho nó chiếu khắp nơi xác lập ảnh hưởng. 

Read more: http://tuvilyso.org/forum/topic/30036-chan-menh-thien-tu/page__st__15#ixzz3iktMT4fn
TuViLySo.Org 



AlexPhong - Phân định cách cục (Song thủ hỗ bác)

Thành thật xin lỗi các bạn vì giờ chiều tôi tiện tay tung ra hai chưởng. Tôi không ngờ dùng thành công lực quá cao cho nên giờ đây phải vào chuộc lỗi. Chỉ một vài bài viết đã làm cho cả thế hệ ngồi bệt nói phét về tử vi Việt Nam phải đứng dậy. Thương các bạn quá, đáng lẽ tôi để các bạn ngồi lâu hơn chút, để còn nói phét nhiều hơn chút. Nhưng một khi Ngọc Trinh đã lột cái quần chip ném vào mặt bọn ăn theo nói leo rồi, thì ngại gì mà không lột nốt chiếc áo dài phía trên rồi xõa gió với đời.

Song thủ hỗ bác nghĩa là cả hai tay đều có việc. Trong lá số tử vi có ba loại cách cục: Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Tham, và Nhật Nguyệt. Bất cứ lá số nào, chỉ cần tìm ba cách cục này có hình thành không là định vị được lá số. Với Tử Phủ Vũ Tướng là cách cục quân thần khánh hội, với Nhật Nguyệt là mệnh VCD đắc Tuần Triệt hội Nhật Nguyệt tịnh minh hoặc mệnh VCD hội tam không đắc song Lộc. Với Sát Phá Tham là cách cục Sát Phá Tham đắc miếu.

Có điều, khi thành cách phải thuần cách, và hội tụ năng lượng của các vòng sao Sinh Vượng Mộ và Tuế Hổ Phù. Chính cách như Tử Phủ Vũ Tướng và Sát Phá Tham không thích Tuần Triệt và tam hợp Mộc Suy Tuyệt mà hợp với Sinh Vượng Mộ. Phản cách như mệnh VCD thì hợp Mộc Suy Tuyệt hơn Sinh Vượng Mộ. Bạn lưu ý vòng Trường Sinh chịu ảnh hưởng của Không Vong trong khi vòng Thái Tuế thì bất kể Không Vong.

Khi lập thành cách cục này, thì cách cục khác phải bị triệt tiêu thì mới được hoản hảo. Ví dụ cách cục VCD được thành lập thì cách cục Tử Phủ Vũ Tướng phải bị triệt tiêu, nhất là ngôi Tử Vi cần sự án ngữ của Tuần Triệt Tuyệt. Khi thành lập cách cục Tử Phủ Vũ Tướng thì cách cục Sát Phá Tham phải bị trấn áp cũng bằng Tuần Triệt Tuyệt thì phe Tử Phủ Vũ Tướng mới nắm trọn vẹn đại quyền.

Đã qua rồi, cái thời chúng ta cầm lá số tử vi không biết ngắm vào đâu. Người khác hỏi thì cũng ngậm ngùi ú ớ nói phét. Đã quá qua rồi cái thời chúng ta không biết thế nào là thượng trung hạ cách, cắm đầu chúi mũi vào vài ngôi sao lẻ để gọt chân cho vừa giày. Đã quá xa rồi, cái thời chúng ta bị tam hợp mệnh tài quan bịt mắt, nhìn vào lá số chỉ nhăm nhăm cung mệnh có gì mà quên mất toàn lá số vẫn là của mình. Và khi topic Song Thủ Hỗ Bác này ra đời thì chấm dứt thời kỳ hỗn loạn năm cha ba mẹ của tử vi. Tử vi bây giờ có barem để đối chiếu. Cho dù người mới học tử vi hôm qua cũng dễ dàng định cục. Bởi vì tử vi nó trần trụi quá, trực quan quá, toàn diện quá. Nhược điểm của nó là đá đít bọn thầy bà đang nói phét trong quốc hội ra đường. Không nắn không sờ không cân lá số mà đúng nghĩa là xem lá số. Thấy sao, nói vậy. Thấy vậy, còn nói sao ?

Bạn dễ dàng biết thượng cách là gì: là một trong ba cách cục trên được thành cách vẹn toàn, được sự cộng hưởng của hai vòng Tuế Hổ Phù và Sinh Vượng Mộ, tại mệnh thì càng tốt.

Bạn dễ dàng biết tạp cách là gì: là cách cục chính tinh bị phá dang dở, Tuế Hổ Phù một nơi và Sinh Vượng Mộ một nẻo, hoặc tróe ngoe VCD không có Mộc Suy Tuyệt.

Những quý tinh, cát tinh, hung sát tinh còn lại bạn lắp vào nhẹ nhàng nhẹ nhàng.

Bạn hiểu vì sao Ngô Bảo Châu đến vận Thất Sát Triệt Tuần lại tỏa sáng chói lọi. Bạn hiểu vì sao Bill Gates giàu. Bạn hiểu vì sao Phạm Gia Khiêm làm phó thủ tướng.

Bạn cầm lá số, chỉ một cái liếc mắt đã phân cách định cục đâu vào đó.

Bạn xem số đầy tự tin vì có nguyên tắc, có phương pháp.

Càng học, càng luyện tập, ánh đao của bạn càng sắc vì bạn thực hành với chân lý dẫn đường.

Xin chúc mừng cộng đồng đã có được những điều này.
Xin chúc mừng cộng đồng vì một kỷ nguyên mới đang trải dưới chân các bạn những bông hoa hồng thơm ngát.

--------------------------
Các ví dụ cụ thể:


Posted Image

1. Trường hợp của tổng thống Obama có lá số này tôi thấy có lý. Cục sinh mệnh, âm dương thuận lý. Bát tự thuân sinh: thổ sinh kim, mộc sinh hỏa, tuy không được liên hoàn nhưng cũng tốt đẹp. Tổng thống sinh giờ dậu theo tính toán thiên văn nhưng đã cận giờ tuất nên tôi mạnh dạn chuyển sang giờ tuất với cách cục sáng: mệnh VCD đắc tam không nhi hội song Lộc phú quý khả kỳ. Mệnh thân lại được ôm vòng Tuế Hổ Phù Hóa Quyền nên càng thoải mái thi hành quyền lực. Ngoài ra đầy đủ Tả Hữu Quang Quý Long Phượng Hổ Cái Ấn Quan Phúc. Cách cục tam không nên vào đại vận có không vong sẽ ứng nghiệm. Năm Mậu Tý 48 tuổi đăng cơ làm tổng thống. Năm Tý tiểu vận có Khôi Đẩu nên bước lên đỉnh cao muôn trượng, lưu niên kích Thiên Phủ nên chân bước vào nhà trắng. Năm Thìn lưu niên lại kích Tử Vi nên tái cử, tiểu vận năm thìn cũng ôm đủ Khôi Việt.

Cách cục tam không cũng không ngại thế Mộc Suy Tuyệt như các cách cục khác, thậm chí còn ứng hợp khi vị trí Tuyệt địa có Tuần Triệt án ngữ. Các bạn tham khảo cung quan của Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm ôm cách cục không vong cũng đứng ở thế Tuyệt địa. Tôi không muốn nói rằng Sinh Vượng Mộ không hợp không vong nhưng thực tế nó là vậy. Nôm na đã sinh thì phải là thực mà đã không vong phải là hư tuyệt mới thuần cách như Toàn Không Cách đã nói. Ngoài ra, cách cục tam không cũng ứng hợp với thế Nhật Nguyệt hơn các thế khác. Mà khi đã suy tôn Nhật Nguyệt thì phải tận diệt Tử Vi tới mức triệt để, đó là nguyên tắc sống còn của cách cục. Không Vong và Tử Phủ chỉ có thể chọn một, không thể ôm cả hai. Ngôi Tử Tướng bị Tuần Triệt áp đỉnh đóng chặt, bên ngoài có Kình Đà sẵn sàng ám quẻ đức vua nếu ngài muốn xổng chuồng phá hại thế Nhật Nguyệt.

Posted Image

2. Cục sinh mệnh, âm dương thuận lý, bát tự nghịch sinh, thượng cát.
Cung tài bạch nắm Thái Tuế, đắc cách VCD có Triệt án ngữ hội Nhật Nguyệt tịnh minh trên thế Mộc Suy Tuyệt.

Ngôi Tử Vi cư ngọ gặp Triệt án ngữ, Không Kiếp Hỏa Đà đứng ngoài sẵn sàng nổ súng nếu Thái Tử Dận Nhưng dám ho he ngai vàng của Dận Chân đang ôm Nhật Nguyệt tịnh minh.

Tử Vi phải bị phế cho Nhật Nguyệt tỏa sáng, đó là yếu lĩnh của cách cục, không chỉ lặp lại 1 lần.

3. Kỳ cách=mệnh VCD nhi ngộ Tam Không hội song Lộc Tuế Tuyệt, phú quý khả kỳ. Thế tam không đắc cách (hoặc Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu cung VCD đắc Triệt hoặc Tuần) nhất định cần Tuế Hổ Phù và đứng Mộc Suy Tuyệt. Đồng thời ngôi Tử Vi phải bị phế thì cách cục mới hoàn hảo.

Như lá số dưới đây, cung điền trạch là cung trọng điểm, hội tụ những yêu cầu trên.

Posted Image

4. Lá số của 1 vị chân mệnh thiên tử. Người khai sáng ra một đất nước không có lời nào để tả, vì hiện nay họ vẫn đang dẫn đầu trên mọi nẻo đường dù là đường đua xanh mướt mát. Đó chính là vị Chân Mệnh Thiên Tử George Washington, tổng thống thứ nhất của Liên Bang Hoa Kỳ.

Posted Image

Trước đây có người xem lá số này nhưng không thể nhìn ra vì mắc vào cái nhìn mệnh tài quan. Khi đó tôi đứng bên cạnh nhìn người đó khóc. Nhưng hiện nay, cái nhìn bó hẹp về mệnh tài quan đã bị một vị thần trên diễn đàn này xóa bỏ, và cơn mưa dịu ngọt lại đổ xuống cánh đồng tử vi lý số khô hạn, chẳng bao lâu nữa những chồi non thức giấc và hàng triệu triệu tùng bách sẽ vươn cao.

Lá số của GW là điển hình của cách cục quân thần khánh hội. Các bạn nhìn vào vị trí của ngôi Tử Vi và đừng nói gì lại với tôi, vì tôi biết bạn muốn nói gì. Bạn muốn thổ lộ với tôi bạn đã biết thế nào là Chân Mệnh Thiên Tử, người được Đức Chúa Trời lựa chọn để dẫn dắt cả thế giới này trừ Triều Tiên dân chủ. Bạn muốn thổ lộ với tôi thế nào là Quân Thần Khánh Hội, và không cứ phải ở mệnh thân mà vẫn là của mình vì trên lá số mình, tất nhiên kém trường hợp ở mệnh thân.

Còn tôi chỉ muốn thổ lộ với bạn rằng muốn cách cục Quân Thần Khánh Hội được toàn hảo thì Sát Phá Tham phải bị chế ngự triệt để. Rồi bạn nhìn xuống đại vận Tham Lang bị phế khi GW đăng cơ bạn hiểu tôi nói gì. Rồi bạn nhìn đại vận Thất Sát bị phế khi Ngô Bảo Châu tỏa sáng bạn hiểu tôi nói gì sau khi liếc nhìn thế Tử Phủ của Ngô Bảo Châu.

Vy thủ thỉ: tử vi chỉ có ba loại cách cục thôi hả Chúa Trời ?
Tôi trả lời: đúng vậy, chỉ có Tử Phủ Vũ Tướng quân thần khánh hội, Nhật Nguyệt tịnh minh và Sát Phá Tham.
Vy lại thủ thỉ: sao tử vi dễ thế, tôi sờ được nè
Tôi trả lời: cái đó...là...chân anh đấy

Năm Kỷ Mùi, GW 68 tuổi, tiểu vận nhập cung thân, LNĐV nhập cung Mệnh, Chân mệnh Thiên Tử về trời. 

5. Lá số Ngô Bảo Châu
Posted Image

Cục khắc mệnh, âm dương nghịch lý. Lá số hình thành cách cục Tử Phủ Vũ Tướng lánh xa Tuần Triệt, cộng hưởng được vòng Tuế Hổ Phù, tại vị Lâm Quan, hội Tả Hữu Khoa Quyền Kỵ. Cung thân có Nhật Nguyệt tịnh minh hợp chiếu nhưng vì có Thiên Lương tại vị nên suy giảm so với VCD hội Nhật Nguyệt tịnh minh. Tuy nhiên Nhật Nguyệt này được thế Sinh Vượng Mộ cũng là kỳ cách tốt đẹp cho cung Thân. Tạo hóa điểm xuyến một ngôi sao Thiên Không tại đó đầy bí ẩn. Phải chăng cũng là đắc cách Nhật Nguyệt chiếu hư không.

Cục Sát Phá Tham bị trấn ngự tại ngôi Thất Sát bởi Tuần Triệt Tuyệt đồng cung. Tại đại vận Thất Sát này năm 2010 Canh Dần 39 tuổi đã đăng cơ nhận giải Fields.

Tuy cách cục Tử Phủ đắc lập nhưng Tử Phủ thường dành cho chính trị hơn là khoa học gia như GS Ngô. Nếu nghiệm lý cách cục học hành khoa bảng của ông, có lẽ phải chấp nhận kỳ cách Nhật Nguyệt chiếu hư vô. Cách cục Nhật Nguyệt chiếu hư vô cần Hóa Lộc thì Hóa Lộc đã nằm sẵn đó. Ngoài ra lục quý Khôi Việt Quang Quý Thai Tọa hội chiếu thay cho lời tôi muốn nói về quý cách này. 
6. Lá số Quang Trung đại đế
Posted Image

Cục sinh mệnh, âm dương thuận lý.
Lá số thành lập cách cục Sát Phá Tham đắc miếu, tránh xa được Triệt Tuần, cộng hưởng được hai vòng Tuế Hổ Phù và Sinh Vượng Mộ. Lại được tại vị Thái Tuế và Trường Sinh nên năng lượng của cách cục rất mạnh. Hơn nữa cách cục này lại đóng ngay tại Mệnh cho nên trời sinh làm một chân mệnh thiên tướng bách chiến bách thắng.

Tuy Tuần Triệt chế ngự được toàn toàn phe Tử Phủ Vũ Tướng nhưng phe Nhật Nguyệt được Tuần Triệt giải hãm lại nắm song Lộc Quang Quý trong tam hợp nên trước nguy sau an, chúa Nguyễn Ánh đã vùng dậy trong đám tro tàn để giành được giang sơn.

7. Lá số Khang Hy:
Posted Image

Lá số Khang Hy cũng lập thành cách Sát Phá Tham nắm trọn Tuế Hổ Phù và Sinh Vượng Mộ. Tuy nhiên Tử Phủ Vũ Tướng bị chế ngự. Còn Nhật Nguyệt chiếu hư vô cung tài bạch hay cung thân VCD đắc Triệt Tuần có Nhật Nguyệt tam chiếu lại đều thuộc các cường cung của Khang Hy. Ngòai ra, lục quý Thai Tọa Quang Quý Khôi Việt đều phủ kín mệnh thân nên đăng cơ làm hoàng đế theo cách cục của Nhật Nguyệt. Cho nên tuy Khang Hy cũng là chân mệnh thiên tướng dụng cách Sát Phá Tham nhưng có hậu hơn Quang Trung Đại Đế. 

8. Lá số Pie đại đế:
Tôi đã cố tình quên không nhắc tới chiêu bài nặng ký này, để khi có kẻ vịn vai nói leo sẽ đưa ra ốp thẳng vào trán. Nhưng bạn Linnaea bạn ấy lãnh khốc quá làm tôi không thể đút tay túi quần mà huýt sáo vang được nữa.

Posted Image

Lá số của Pie đại đế, giống hệt lá số của GS Ngô Bảo Châu. Thế chân mệnh thiên tử của Pie đã vằng vặc ngôi Tử Phủ Quyền Khoa Hổ, tuy nhiên kém lá số GS Ngô ở vòng Trường Sinh mà lại hơn GS Ngô ở Cục Mệnh tương sinh.

Mệnh của Pie ôm vầng Dương vằng vặc lấp lánh quý tinh. Cung mệnh của GS Ngô nắm Cự Môn tất nhiên không thể sánh bằng.

Bát tự của Pie thì tương xung cân đối, tuy không thành hình vuông nhưng cũng được hình thoi.
Tuy nhiên khi Triệt Tuần hủy diệt thế Sát Phá Tham của lá số Pie thì để lọt khe vòng Sinh Vượng Mộ. Trường Sinh tại đó phá cách cho nên con cháu của Pie coi như phế dòng nam.

Một vị chân mệnh thiên tử khai sáng nước Mỹ. Một vị chân mệnh thiên tử khai sáng nước Nga. Chúng ta còn chờ gì không đến với vị quốc phụ Trung Hoa.

Pie đại đế mất năm 53 tuổi giáp thìn khi tiểu vận nhập cung Thất Sát phá cách, còn LNĐV 53 tuổi nhập cung thân như cái tát vào mặt kẻ cối to mà chày nhỏ. 


9. Lá số chân mệnh thiên tử Trung Hoa: quốc phụ Tôn Dật Tiên
Posted Image

Đến giờ thì bạn có thể nhìn vào lá số và nói với tôi, ai là chân mệnh thiên tử của con rồng number two thế giới. Ai là người lật đổ vương triều nhà Thanh thối nát và trì trệ. Ai là chú bé đứng trong đám người dưới gốc đa nghe người lính thất trận của Thái Bình Thiên Quốc truyền cảm hứng cách mạng.

Tôi không muốn nói rằng thế Tử Phủ Thái Tuế Trường Sinh tại vị trong lá số.
Tôi không muốn nói rằng Thái Âm hãm địa đã gặp Thiên Không còn Thái Dương hãm địa lại gặp Tuần Không.
Tôi không muốn nói rằng thế Nhật Nguyệt hãm phản cách đứng ở thế Mộc Suy Tuyệt.
Tôi không múôn nói rằng phe Nhật Nguyệt phản cách có song Lộc soi rọi.
Tôi không múôn nói rằng phe Tử Phủ Vũ Tướng trúng Tuần thì đó là mộ địa.
Tôi không muốn nói rằng năm Tôn Trung Sơn qua đời thì LNĐV nhập mệnh.

Tôi không muốn nói những điều đó vì lá số của Tôn là do Chúa Trời tạo thành chứ không phải ai tô vẽ.
Tôi không muốn nói tại sao những chân mệnh của 3 siêu cường cận đại lại là Tử Vi Tuế Hổ Phù.

Tôi không muốn nói rằng chúc mừng bạn vì bạn đã được ánh sáng chân lý soi rọi.
Tôi muốn bạn xem rồi bạn nói với tôi. Rằng tử vi sao mà dễ quá, rằng tử vi sao mà trực quan quá, rằng tử vi sao mà hệ thống quá.